JavaScript Menu - Demo #1
Drop down menu
   Xem chi tiết bản tin
  Trường cấp 3 Nghĩa lộ - Nỗi nhớ trong tôi

Lê Vĩnh Hà

Học trò Trường C3 Nghĩa lộ năm 1963-1967

 

Bao giờ cho đến ngày xưa

Ai đã phát minh ra điều ước ao vô lý tuyệt vời này nhỉ ?

Ngày xưa của ai có lẽ cũng đều như một cuộn phim đen trắng, huyền ảo, dịu dàng, không có nắng, không rực rỡ sắc màu, mọi hình ảnh đều mờ mờ sau làn sương mỏng hiền lành, dễ thương, nhiều khi cứ diễn ra dai dẳng đến nao lòng người nhớ…

 

Hai cha con tôi đứng ở ngã ba lưng đồi; bên trái là sườn dốc lên phía đỉnh đồi có nhiều cây cao to phủ bóng lên mấy ngôi nhà tỉnh đội; trước mặt có hai ngả, một ngả vòng theo sườn đồi  “vào bộ đội(phía ấy có doanh trại); một ngả đi thẳng qua một đập nước thì vào cơ quan; ngả sau lưng là đường xuống phố. Bố tôi chỉ xuống bãi đất bằng ở chân đồi:

-   Đây là sân bóng đá mà ngày trước gọi là bãi tập. Trường học của con là dãy nhà ở phía bên kia sân bóng ấy, mới được thành lập hai năm nay.

Trong sân trường có hai học trò đang đá bóng, dáng dong dỏng mới lớn, người “sút” - kẻ bắt rất điệu nghệ y như trong phim “Hai đội bóng học sinh “ của Trung quốc ấy, trông thật đẹp. Tôi nhận ra anh Đức (con bác Thương ở Ty Thương nghiệp hồi ở Khu ), người kia thì 3 hôm sau tôi mới biết tên là Trực. Trường có hai cây tếch rất cao, lá to như quạt mo, khô, rụng nhiều nhưng không được quét gọn, vì trường đang  nghỉ hè.

- Bố nghe nói bây giờ trường được quyết định chuyển đến chỗ khác rồi.

 

Ngưòi ta nói rằng chỗ đất này (không gọi “vùng đất” vì nó nhỏ thôi, không phải “miếng đất” hay “thửa đất” vì nó khá rộng) không làm ruộng được (cằn cỗi, khô nước), không lập bản được (không có rừng, báu mí nậm), người ta để thả trâu hoặc dành cho người chết. Phía mặt tiền, đi ra khoảng trăm thước có đường ôtô, mà rẽ phải thì đến Dốc Đỏ, đi nữa qua Nậm Thia bằng cầu treo, rồi qua Cửa Nhì, đi Yên Bái; còn rẽ trái là đường về phố, qua dốc Hoa kiều, qua Nậm Nung (cũng có cầu treo), qua Bản Hẻo, xa nữa là đi về Tú Lệ, Mù Cang Chải…Ôi! Những nẻo đường hiền lành xưa cũ…

Đúng, Chỗ đất ấy đấy, là nơi mọc lên ngôi trường mà cho đến nay, sau năm mươi năm, vẫn là “điểm nhấn thân thương” trong ký ức chúng tôi - những học trò Trường Cấp III Nghĩa lộ  ngày xưa.    

 

1964

Xuống Dốc Hoa Kiều khoảng trăm mét thì đến nhà tôi, số 106, Tiểu khu 4, cách Nậm Nung khoảng 150 m, Ty Giáo dục thì ở ngay bên suối Nung. (Có lần tôi cõng Hậu và  dắt Hưng - 2 em tôi, đều là học trò Cấp III Nghĩa lộ- lên qua Dốc Hoa kiều để xem phim, bị cơn mưa to như trút nhưng 3 anh em đều rất thích, hồi ấy dễ gì được xem phim). Tôi đi học phải qua nhà các bạn Nhục (Lý Kim Ngọc), Trường, Nga, Thành, Huy mới đến lớp - khoảng 2 cây số. Ở gần nhà tôi toàn các bạn nữ : Thịnh, Dung, Trường, Nhục. Các bạn nam thì ở xa hơn: Tạo (ở Ty Giáo dục), Thành (trên dốc Hoa kiều), Tiến (ở sân bay)…Tôi còn nhớ cả những học sinh lớp khác: chị Nhiên (lớp 9, giáp nhà tôi), Thành (lớp 5, em Thịnh), Nga (lớp 6, nhà làm nón lá, ở đầu Dốc Hoa kiều), anh Học (lớp 9, nhà ở ngang dốc Hoa Kiều), Huy (lớp 6, nhà thợ may, ở gần ngã tư giữa phố)…Nhớ lại những nếp nhà, cánh đồng, con dốc, bạn bè,…gắn liền với tuổi học trò của mình, lòng thật bồi hồi …

Trường đã chuyển về địa điểm mới (chỗ đất ấy) được một năm nhưng còn đơn sơ lắm. Tôi đã học xong lớp 7. Năm sau trường mới có lớp 10.

Liên đội Thiếu niên của Trường do “anh Hồng” (thầy dạy toán) phụ trách, Liên đội trưởng là Lợi, Liên đội phó là Thắng (cả 2 người đều học trên tôi 1 lớp), Đội trưởng lớp 7 của tôi là Trường (cô bạn nhỏ nhắn và …xinh), Đội phó là cô bạn Ấm (bị gán thêm “sứt vòi”). Đội sinh hoạt sôi nổi, nghiêm túc và có vai trò tích cực trong hoạt động của trường. Những lần đi gặt lúa giúp dân ở cánh đồng chân Dốc Đỏ hay ở gần Ty Thủy lợi, chúng tôi thích thú, hăm hở làm việc nhưng còn vụng về lắm. Tôi nhớ mãi hình ảnh Đinh thị Kim Xuyến đi gặt về,  quàng khăn đỏ vừa đi tung tẩy vừa hát “…ta đi rung rinh cành lá ngụy trang xanh rờn…”. Dân bản vui mừng vì trai tráng tòng quân, hợp tác còn ít người nhưng vẫn kịp gặt hái. Khi xong việc, ông chủ nhà làm bữa cơm rượu mời thầy Bào (hiệu trưởng trực tiếp quản lý học sinh đi gặt) và số bạn nam trọ cùng nhà với thầy. Chủ nhà mời rượu, thầy Bào uống một hớp rồi đặt chén, học trò thì không dám uống – “còn bé” mà. Tôi  “thử” một ngụm, thấy cay xè mà không dám lè ra, cố nuốt cho nhanh, nóng cả mặt. Một lúc sau, thầy Bào giơ ngón tay trỏ trước mặt tôi và bảo:

-   Cậu lấy ngón trỏ chọc xem có trúng không.

Tôi làm theo lời thầy, thầy cười hiền như một người cha, gật đầu bảo tôi:

-   Còn chính xác, thế là chưa say. Nhưng nhớ đừng bao giờ uống say nhá…

 

Năm này trường đã có đội bóng đá (“chân giày” hẳn hoi) trong đó lớp 7 có hai cầu thủ  là Liêm và tôi (đúng ra thì 17 tuổi mới được “chân giày”, mà tôi mới 15 và Liêm 16 tuổi). Các cầu thủ lớp 8, lớp 9 là Đăng Dũng, Sĩ Dũng, Đức, Giao, Trực, Quân, Vượng …Thầy Thảo và thầy Hoan quản lý đội và cũng phải “lâm trận” khi cần. Chúng tôi hay được mời đá giao hữu vì nhiều lý do. Một lần, thầy Thân (dạy Sinh) ở Sở Giáo dục Khu Tây Bắc về công tác mấy ngày, thấy trường có trận giao hữu thầy cũng vào “bắt gôn”. Khi chào khán giả xong, toàn đội tỏa về vị trí của mình, thầy Thân nhảy xanto 3600  hai lần về phía khung thành, thật sành điệu, khán giả Nghĩa lộ “ồ lên” thán phục và vỗ tay tán thưởng. Khán giả thích đội chúng tôi có lẽ chỉ vì “học sinh đá đẹp mà không chơi gấu”.

Đội văn nghệ của trường cũng nổi lắm. Tôi chỉ thích hát, không tài cán gì nhưng cũng được xếp “một chỗ”. Thật thích thú khi làm quen với hình thức hợp xướng 4 bè mà thầy Tạ Trần Ích hướng dẫn với tác phẩm đồ sộ Tổ quốc ta (sau này đổi tên thành Ca ngợi Tổ quốc, tác giả Hồ Bắc). Thầy Thảo (dạy toán) cũng dạy hợp xướng - đồng ca bằng Hoàng hôn trên nông trường (Nhạc Liên xô, Nguyễn Mạnh Thường dịch lời), thầy cũng hay ôm guitar mà hát Giờ này anh về đâu … Cho đến nay, tôi vẫn còn nhớ các bè mà thầy Ích và thầy Thảo đã truyền cho, như một học trò ngoan thuộc bài thầy dạy, vậy thôi.   

 

1965

Thầy đặt chồng vở lên bàn, xoay người lại, nhìn lớp khắp một lượt, gật đầu chào và cho cả lớp ngồi xuống rồi khẽ nghiêng đầu, mủm mỉm cười ý nhị :

- Tôi trả bài tập làm văn “viết về niềm ước mơ khao khát nhất của em”. Lần này có nhiều bài viết tốt, như bài ước mơ “trở thành nhà khoa học” của em…, “trở thành bác sỹ “ của …

Tôi đang kín đáo giải bài tập Vật lý thầy Khang mới cho tổ ngoại khóa …

- … và như bài của Lò Văn Muôn nói lên mơ ước trở thành họa sỹ, đã khéo léo dùng nhiều từ màu sắc, vẽ ra trong bài văn cảnh đồng quê tươi đẹp, núi non hùng vĩ, cảnh những con tàu nhả khói trắng lướt trên cánh đồng xanh êm ả thanh bình…

Tôi đang rối vì bài Vật lý trong ngăn bàn…Bỗng:

 - Lê Vĩnh Hà !

Tôi ngỡ ngàng đứng dậy:

- Dạ.

- Sao cậu nộp bài trắng kèm theo mấy tờ giấy nháp thế này ?

Tôi nhìn lên, tay thầy đang giơ cao mấy tờ giấy tội nghiệp…

- Dà à ạ … Ý nhiều và tuôn ra nhanh quá, em viết vội vào nháp đến hết giờ nên không kịp chép lại ạ.

Thầy đưa “mớ giấy lộn “đó cho tôi. Xấu hổ quá… Ô điểm và lời phê còn để trống – chắc “trứng thiên nga” rồi ! ).

- Đọc cho cả lớp nghe !

Ngượng quá. Thôi, cố gắng vậy…

- Vâng, thưa thầy, em đọc.

” Từ thuở tôi còn là một chú bé hiếu động, hay cưỡi con ngựa tre (đôi khi là cái chổi quét sân), mồm thì “lọc cọc, lọc cọc”giả làm tiếng vó ngựa (mà ngựa tre thì chỉ “quèn quẹt,quèn quẹt”) chạy vòng quanh sân; thỉnh thoảng dừng lại nghe tiếng ngâm nga rè rè như tiếng ống bơ của bố tôi :

-         Công thần Nguyễn Trãi nước Nam ta

      Nhị Khê là quán, cha là Phi Khanh…

Vâng, từ thuở ấy tôi đã ao ước, một ước mơ ngày càng da diết, khát khao…”

Có lẽ những con chữ tôi viết chỉ còn tác dụng “nhắc bài” mà thôi, càng đọc tôi càng say sưa như đang kể một câu chuyện yêu thích từ lâu…

“…

-   Én Bạc, chú ý hướng 7 giờ, 2 “thằng ép”!

-   Báo cáo, thấy rõ, để tôi !

Tôi cho máy bay vọt lên cao, ngửa bụng vòng ngoắt lại bám đuôi 2 “thằng F”, lướt gió, sát vào, sát vào nữa, nghiến răng đạp cò súng. Luồng đạn vụt ra …mày chạy đằng trời! Một thằng F-105 xịt khói, lảo đảo lao vút đi rồi bùng lên thành con rắn lửa  khổng lồ …

− Én Bạc, nhảy dù  đi !

Biết mình và máy bay đều đã bị thương, không thể về đến “nhà”, nhưng phải có cách nào cứu Én Bạc chứ …Cố lên, Én ngoan cố lên! Kia rồi, phía xa trước mặt có một cánh đồng…

Tôi tỉnh dậy trong bệnh viện, nhận ra biên đội trưởng đang ngồi bên giường…

… 15 ngày sau tôi được về “nhà”, nhưng chú Én yêu quý thì còn “nằm viện”. Tôi đến thăm, vỗ về Én, mong  ngày lại được cùng nhau lưót gió canh giữ bầu trời…

Tôi thường “mơ giữa ban ngày” như thế, khát khao, cháy bỏng …”

Đọc xong, tôi cầm mấy tờ giấy, chờ đợi. Thầy đứng giữa lớp, mắt nhìn đâu đó bên ngoài cửa sổ, im lặng mấy giây rồi thầy quay lại, nghiêng nhẹ mái đầu, đôi mắt chứa nụ cười hóm hỉnh như muốn bảo “bịa khiếp chưa !”.

  - Có ai nhận xét gì không ?

Tôi nhìn Đa – cây văn, không hiểu chàng đang nghĩ gì mà ngồi im như thóc. (Đa gầy gò nhỏ bé nhất lớp, nhưng học giỏi môn văn. Hôm Đa đọc “Văn tế nghĩa sĩ Cần giuộc” thì trời ạ, cả lớp “há miệng mà nghe “, hắn đọc lạ lắm, hay lắm, nghe như chính Cụ Nguyễn Đình Chiểu đang khóc tế vậy. Không biết làm sao mà thầy lại phát hiện được cái tài cúng tế của nó ). “Họa sỹ” Muôn thì chẳng ngọ ngoạy gì, chắc đang thả hồn theo con tàu đang nhả khói…; cả lớp cũng không ai nói gì, chắc đều “thôi, tha cho nó”.

-   Em phải biết chia thời gian làm bài. Trước tiên là phải đọc kỹ, hiểu rõ đề rồi làm vào giấy nháp một dàn bài tốt, sau đó viết bài ngay, không cần viết nháp. Những ý lóe lên cũng chỉ ghi thêm vào giấy nháp, ở chỗ thích hợp trong dàn bài để bổ sung khi viết chính thức. Cậu có khả năng sáng tác đấy, nhưng hư cấu là một thủ thuật cần thận trọng khi dùng cho hợp logic. Cần đọc thật nhiều và tập viết thật nhiều đi.

Thầy ngừng giây lát rồi nói tiếp:

-   Nếu là bài thi thì cậu hỏng rồi, chẳng thầy nào cho điểm đâu. Đây chỉ là bài tập và cậu có giọng văn đáng khuyến khích nên tôi coi như tờ đầu này chỉ là bìa tác phẩm, không coi là cậu thiếu tôn trọng tôi.  

Thầy kê bài của tôi lên bàn, viết nhanh một “nhát” rồi đưa cho tôi. Mấy đứa ngồi gần nghiêng nghé nhìn vào, rồi chúng reo lên:

-   Tuyệt cú mèo !

 

… Thầy tên là Lê Trường Phát, dáng thư sinh nhỏ nhắn, thậm chí có “vẻ con gái”. Một hôm trời mưa, thầy mặc áo mưa có mũ trùm đầu kín mít, trông nhỏ như một cô bé, khi thầy hỏi tôi mới nhận ra. Tôi chưa bao giờ thấy thầy cau mày, lớn tiếng cáu giận ai. Là giáo viên môn văn, thầy có kiến thức sâu rộng về văn học Tây-Ta-Tàu …đã đành nhưng chúng tôi thấy rõ ở thầy tình yêu, lòng quý trọng đối với văn học dân tộc, với Nguyễn Du, Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông, …Thầy yêu những làn điệu dân ca, múa chèo dẻo như một cô gái Thái bình, thầy dạy chúng tôi cách cầm quạt, xoay mở bàn tay theo nghệ thuật chèo và hát “í ơi , í a”… Trước đây tôi không hề hát chèo, thậm chí “không thèm nghe hát chèo”. Ngốc nghếch tệ hại thế đấy! Học thầy tôi mới dần dần thấm thía cái hay thầm kín, ngọt ngào và đằm thắm một cách cao cấp của loại hình nghệ thuật này.

 Và, cũng nhờ thầy mà tôi dám làm thơ Đường luật …

 

1965

Giặc Mỹ đã ném bom mở rộng đến vùng Yên Bái, Phú Thọ … Trường lại chuyển chỗ, lần này là sơ tán, tít tận bên trong Mỵ 10 cây số.

Tôi và Vinh (cùng lớp, con bác Trủy) quyết định đi xe đạp đến nơi trường sơ tán. Lúc đầu thì hăm hở, qua Cửa Nhì (10 km)đã thấy mệt, vừa thở hổn hển vừa đạp, vừa thầm chửi “cái thằng Mỹ chết tiệt”.  Đến đỉnh Đèo Ách, đỡ mệt, tôi đố Vinh:

-         Mày biết tại sao người ta gọi đây là Đèo Ách không ?

-         Kệ người ta ! Lắm chuyện.

-         Trên đỉnh đèo đi xuống thì chẳng cần đạp, chỉ cần tỉnh táo tay phanh, thường trực thêm cái “phanh chân” nếu cần. Gió mát như bão làm khô hết mồ hôi. Còn khi bò  lên đỉnh đèo này thì cực khổ, mày vừa thưởng thức đấy, chẳng phải là “Ách” à ?

-         Lắm chuyện !

-         Vừa vượt đèo tao vừa nghĩ đến thầy Phát, này nghe, thơ Đường đây này:

Người xuống vui lòng như phúc đến,

Kẻ lên nhăn mặt đúng Ách ư ?

-         Đồ dở hơi! Chữ “lên” với chữ “Ách” có đúng niêm luật không ?

 Tôi ớ ra… thì ra thằng này nó giả vờ không biết thơ Đường.

-   Sửa lại một tí là được í mà! Tại mệt thôi…Mà mày biết không, thầy Phát nói đèo này là căn cứ kháng chiến của Nguyễn Quang Bích đấy.(Tôi lảng, chữa thẹn ).

… Đến Mỵ. Đây là lần đầu đến Mỵ. Hẻo lánh hoang sơ, chỉ có mấy nếp nhà…thế mà còn phải đi khoảng 10 cây nữa. Vừa đi vừa hỏi thăm, cuối cùng thì cũng đến được “Rôm”… 

Đã có nhiều thầy, nhiều bạn đến tập trung. Các lớp cấp II đã được tách riêng,chỉ còn 3 lớp cấp III. Trường có thêm thầy Kinh (dạy Hóa, với chữ cracking khó quên), thầy Triêm (dạy Sinh, thầy trang trí báo tường đẹp lắm), thầy Quế (dạy Văn, dạy tôi bài Mỗi bước ta đi của Thuận Yến sáng tác chưa ráo mực). Cô Hoàng Quang Thiệu (dạy Sử) vẫn kiên cường bám lớp, thật vất vả cho cô.

Năm học này tôi vào lớp 9. Sĩ số lớp đã thay đổi nhiều, lớp khác cũng vậy, nhiều người đã phải bỏ học hoặc chuyển trường(Thành, Tiến, Hiền Hà nội, Thúy, Trường, Ấm,Trúc Quỳnh, …).

Thầy trò trọ ở nhà dân. Tôi ở chung với Tuyến, Quế, Hành trong một “căn nhà” nhỏ vách đất, mái tranh. Trước nhà chúng tôi có một nhà sàn dựng ngay mép suối, chủ nhà là một người đàn ông bị hỏng hai mắt từ bé nhưng rất giỏi việc đi nương, chặt tre, đan lát. Sơ tán quá xa nhà, đèn dầu cũng hiếm, gạo tiêu chuẩn ít ỏi, chúng tôi thì đang tuổi lớn nên thường bị “đói cả nhà”. Một ngày nọ, học về, gạo chẳng còn hột nào, phát sinh chuyện thách đố “ăn hết một cân gạo”- chuyện này làm tôi còn xấu hổ mãi đến nay, xin không kể lại .

 

Các lớp đều vừa học vừa tự dựng lớp, chặt cây, san đất, đào hầm hào chống bom. Một lần mấy chàng trai khỏe nhất đi chặt tre, mải ngồi tán lếu tếu quên giờ giấc, bị  thầy Lộc (thầy dạy môn Hóa) “mắng nhẹ một cái” mới vác tre về.

Thế mà vẫn say mê ca hát (lớp 8 có giọng Tenor mới, tên là Văn), say mê đá bóng (đỉnh đồi có khoảnh đất rộng lắm)…

Chúng tôi cũng tham gia đuổi bắt “Mỹ nhảy dù”, “gián điệp mặt đất”…thường do thầy Kinh, thầy Đình chỉ huy. Lùng sục, phục kích qua đêm…Tuy không bắt được kẻ gian hay giặc Mỹ nhưng chúng tôi thấy mình đã ra dáng công dân, can đảm và “có tinh thần cách mạng”, nhân dân cũng tin cậy và giúp đỡ chúng tôi hơn.

1974

Học xong nghề thuốc, tôi được tuyển “đi B”. Qua 3 tháng rèn luyện và bồi dưỡng thể lực ở Trường 105 Lương sơn-Hòa Bình, sau Tết Nguyên đán, chúng tôi hành quân vào Nam bằng tàu, rồi bằng xe tải. Trên đường Trường sơn đèo dốc thăm thẳm, trong rừng già đại ngàn bụi bay mù mịt, thật bất ngờ, xúc động, tôi gặp Mai Ngọc Hiên, bạn cùng học lớp 7, lớp 8 ở Cấp 3 Nghĩa lộ, thằng bạn hiền lành có “cái cười” sáng lóa, kẻ đá bóng thuận chân trái và chơi bóng bàn bằng tay “đập niêu không vỡ”. Hai thằng chỉ kịp “ớ” nhau, quá bất ngờ chẳng kịp nói gì, “cười sáng lóa” một cái rồi vẫy tay dõi nhìn nhau đến lúc rừng cây che khuất… Hình ảnh trường xưa yêu dấu hiện lên trong tâm trí tôi suốt chặng đường dài …

1978

  … Kìa từng vạt lúa đùa trong nắng phất phơ nhẹ rung,

      Kìa lấp lánh than trên tầng, dưới trời trong …

  … Xuân về tươi sáng …Say sưa ca muôn lời, mối tình Tổ quốc tôi . Ơ ơ ơ…

Dàn hợp xướng hơn một trăm “ca sỹ bất đắc dĩ “ ngành y tế Đăklak đã ngân nhỏ dần những hợp âm cuối cùng. Bài ca hay quá mà các bạn tôi diễn cũng rất hay làm tôi nghẹn ngào xúc động. Nhạc sỹ Văn Tấn (tác giả Mùa xuân em nhớ Tây nguyên) vỗ về tôi:

-   Không có tổng phổ mà chú dựng được cả 4 bè như thế là khá đấy. Ông thầy Tạ Trần Ích của chú tài thật, dạy chú đến nơi đến chốn, và chú cũng … được đấy .

Sau 30 phút hồi hộp chờ đợi, tôi nghe Ban giám khảo Hội diễn nói điều tôi không dám tưởng:

-  Hợp xướng “Tổ quốc ta”của Đoàn văn nghệ I Công đoàn tỉnh đạt giải nhất !

 Cảm ơn Nhạc sỹ Hồ Bắc, cảm ơn các đồng nghiệp-đồng diễn. Nhưng chỉ mình tôi biết, tôi thầm cảm ơn thầy Tạ Trần Ích ở Trường cấp III Nghĩa lộ của tôi. Ôi, nhớ sao những ngày cách đây 14 năm thầy cùng với thầy Thảo đã dựng hợp xướng này cho học trò Cấp III Nghĩa lộ. Thầy ơi, thầy còn nhớ không ?

*

*   *

Những hình ảnh trường xưa , người xưa  cứ  hiện ra, diễu qua…như ở một thế giới nào khác, xa xăm, nhớ lắm, thương lắm mà không gọi được, không níu được.

Hôm nay, tôi may mắn gặp trang Web này, biết tin ngày 8/10 tới sẽ có Lễ kỷ niệm 50 năm sinh nhật Trường, ngày hội gặp mặt những thầy trò cũ và mới  tại Ngôi trường Cấp III Nghĩa lộ yêu dấu ngày xưa. Thương nhớ nhiều thành ra muốn nói nhiều cho thỏa. Tôi viết ra đôi điều mong được mở lòng đón nhận và châm chước sự yếu kém nào đó của tôi.

Tự đáy lòng, tôi cầu mong Quý Thầy Cô xưa và nay, các bạn học cũ và các bạn học trò những thế hệ sau, ai cũng dồi dào sức khỏe, vượt mọi trở ngại, đạt tới các thành công trong phận sự của mình. Và tất cả mọi người, dù ở đâu, đi đâu, hoàn cảnh nào cũng dành một quỹ thời gian nho nhỏ để nghĩ về Trường cấp III Nghĩa lộ yêu dấu của chúng ta.

                                                                                                           LVH

Lượt xem: 3559 Tác giả: Lê Vĩnh Hà - Học trò Trường C3 Nghĩa lộ năm 1963-1967
Quay lại In trang Gửi tin Phản hồi
 
Các tin tức khác
Tập san “Nghĩa Lộ tình yêu và tuổi trẻ”.  (22/09/2012  (1260)
Những khởi đầu quan trọng của tôi đều từ Trường THPT Nghĩa Lộ.  (05/09/2012  (1049)
NHỚ TRƯỜNG  (03/11/2011  (818)
Theo anh, em về thăm lại miền quê…  (24/10/2011  (2887)
Chiếc khăn đậm tình Người Mường Lò.  (14/10/2011  (1265)
MÁI TRƯỜNG CỦA TÌNH THẦY, NGHĨA TRÒ  (08/10/2011  (1393)
50 NĂM XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN (tiếp theo)  (05/10/2011  (1870)
50 NĂM XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN (tiếp theo)  (03/10/2011  (1942)
DANH SÁCH HỘI CỰU HỌC SINH CẤP 3 NGHĨA LỘ TẠI HÀ NỘI  (01/10/2011  (1512)
50 NĂM XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN (10/1961-10/2011): Giai đoạn từ 10/1061 đến 8/1965  (29/09/2011  (1839)
50 NĂM XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN (10/1961-10/2011)  (28/09/2011  (1906)
HỌC SINH NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ CẦN PHẢI NỖ LỰC THẬT CAO ĐỂ HỌC VÀ VƯƠN LÊN VÀ PHỤC VỤ QUÊ HƯƠNG ĐƯỢC TỐT HƠN  (28/09/2011  (1203)
Cái nôi đào tạo nguồn nhân lực  (23/09/2011  (1240)
Giới thiệu cuốn kỷ yếu “ 50 NĂM XÂY DỰNG & PHÁT TRIỂN” nhân dịp kỉ niệm 50 năm ngày thành lập trường  (23/09/2011  (3279)
Nghĩa Lộ, cấp 3 Nghĩa Lộ, tuổi trẻ của tôi, tình yêu của tôi.  (21/09/2011  (1413)
 
Nội bộ

Sơ đồ tổ chức

Ban Giám hiệu

Các tổ chuyên môn

Danh sách các lớp - GVCN

Danh bạ Sở GD&ĐT Yên Bái

Các phần mềm ƯDCNTT

 

Thời khoá biểu

Tra cứu điểm TB các môn

Điểm thi tuyển sinh lớp 10

Điểm thi tốt nghiệp THPT

 

Gửi bài viết cho BBT

Góp ý với Hiệu trưởng

Đăng ký thành viên

 
 
Văn bản

CV Số: 4099/BGDĐT-GDTrH Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ Giáo dục Trung học năm học 2014-2015

CV Số: 3008 /CT-BGDĐT: Chỉ thị Về nhiệm vụ trọng tâm của giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông,

CV số 4339/BGDĐT-CTHSSV về việc tăng cường triển khai công tác giáo dục ATGT đầu năm học 2014-2015

Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ Giáo dục Trung học năm học 2013-2014

Quyết địnhVề kế hoạch thời gian năm học 2013-2014 của giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông và giáo dục thường xuyên trên địa bàn tỉnh Yên Bái

Hướng dẫn nhiệm vụ năm học 2013-2014 đối với GDTrH

Hướng dẫn nhiệm vụ khảo thí và kiểm định chất lượng giáo dục năm học 2013-2014

Xem tiếp >>

 
 
Kế hoạch công tác
Tháng Năm Khác
LỊCH CÔNG TÁC THÁNG 11/ 2014
LỊCH CÔNG TÁC THÁNG 10/ 2014
Phương hướng phấn đấu thực hiện nhiệm vụ Năm học 2010 - 2011
Kế hoạch tổ chức ôn tập và kiểm tra hết kỳ I năm học 2010-2011
 
 
Thống kê
Lượt truy cập thứ:
1589283
Hiện tại có 1 người đang online;
Đông nhất lúc 7:30, ngày 17/6/2010
50 người online
 
 
 
Tìm kiếm bản tin đã đưa
 

Tìm

 

theo

 
THÔNG BÁO

 
 
LIÊN KẾT
 
 

Người chịu trách nhiệm chính : ông Nguyễn Cao Luận, Hiệu trưởng nhà trường
Địa chỉ : phường Tân An Thị xã Nghĩa Lộ; điện thoại: 0293 562.969
Email: c3nghialo@yenbai.edu.vn; Website: http://www.thpt-nghialo-yenbai.edu.vn
Trang tin chính thức của Trường THPT Thị xã Nghĩa Lộ